Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Thơ Marina Tsvetaeva - Phần 2



19. HẠNH PHÚC

– “Em trước đây chỉ yêu mỗi hoa hồng
Trong tóc em giờ có vòng hoa khác.
Em đã đổi thay đam mê màu sắc?”
– “Là bởi vì anh đó, anh của em!”

“Trong tháng tư anh cần hoa linh lan
Còn tháng năm anh dùng chân giẫm nát.
Em đã thầm thì gì trong lời đáp?”
– “Là bởi vì anh đó, anh của em!”

“Anh đây vốn yêu lục lạc – chuông con
Và anh sẵn sàng làm tên đầy tớ
Sao em giật hoa của mình lặng lẽ?”
– “Là bởi vì anh đó, anh của em!”

Счастье

— «Ты прежде лишь розы ценила,
В кудрях твоих венчик другой.
Ты страстным цветам изменила?»
— «Во имя твоё, дорогой!»

— «Мне ландышей надо в апреле,
Я в мае топчу их ногой.
Что шепчешь в ответ еле-еле?»
— «Во имя твоё, дорогой!»

— «Мне мил колокольчик-бубенчик,
Его я пребуду слугой.
Ты молча срываешь свой венчик?»
— «Во имя твоё, дорогой!»


20. SAU NGÀY LỄ

Ngày hôm nay đôi mắt mẹ buồn ghê
Cả vú em, những đứa con đều sợ
Không nhìn vào chú lính chì đội mũ
Thậm chí không nhìn sang cả chú hề.

Đường ven của mẹ hôm nay rất trong
Những vết xanh trên những bàn tay nhỏ
Mẹ không giận vì nĩa không sạch sẽ
Và hàm răng con trẻ ngậm kẹo mềm.

Hôm nay mẹ không kể chuyện, hát lên
Vẻ tái nhợt, má lạnh lùng hơn trước
Thậm chí không muốn ánh mắt trung thực
Nhìn sang cô con gái nhỏ của mình.

После праздника

У мамы сегодня печальные глазки,
Которых и дети и няня боятся.
Не смотрят они на солдатика в каске
И даже не видят паяца.

У мамы сегодня прозрачные жилки
Особенно сини на маленьких ручках.
Она не сердита на грязные вилки
И детские губы в тянучках.

У мамы сегодня ни песен, ни сказки,
Бледнее, чем прежде, холодные щёчки,
И даже не хочет в правдивые глазки
Взглянуть она маленькой дочке.



21. SAU KHI KHÁCH RA VỀ

Khách đã ra về. Từ đằng xa
Vang lên tiếng than phiền từ cánh cổng.
Một nốt nhạc buồn và nản…
Khi khách đã ra về.

Mẹ tháo đôi bông tai – vì sao?
Và vòng đeo tay mẹ cởi
Mẹ giấu kẹo vào trong tủ nhỏ
Như nhà tù.

Nội thất màu đỏ, niềm vui của con thơ
Mẹ đem trùm lên áo phủ
Điều này bao giờ cũng thế
Sau khi khách ra về!

После гостей

Вот и уходят. Запели вдали
Жалобным скрипом ворота.
Грустная, грустная нота...
Вот и ушли.

Мама сережки сняла, - почему?
И отстегнула браслеты,
Спрятала в шкафчик конфеты,
Точно в тюрьму.

Красную мебель, отраду детей,
Мама в чехлы одевает...
Это всегда так бывает
После гостей!

  


22. DÁNG ĐI CỦA TÔI THẬT NHẸ NHÀNG

Dáng đi của tôi thật nhẹ nhàng
Là dấu hiệu của lương tâm trong sáng
Dáng đi của tôi thật nhẹ nhàng
Là bài ca của tôi luôn vang vọng.

Và Chúa Trời đã đặt tôi một mình
Một mình tôi giữa trần gian bát ngát.
- Ngươi không phải đàn bà, ngươi là chim
Và bởi thế - hãy bay và hãy hát.
1918

Поступь лёгкая моя

Поступь лёгкая моя,
— Чистой совести примета —
Поступь лёгкая моя,
Песня звонкая моя —

Бог меня одну поставил
Посреди большого света.
— Ты не женщина, а птица,
Посему — летай и пой.



23. TÔI LÀ TRANG GIẤY CHO NGÒI BÚT CỦA NGƯỜI

Tôi là trang giấy cho ngòi bút của Người
Nhận tất cả về mình. Tôi là trang giấy trắng
Là kẻ gìn giữ cho Người tài sản
Rồi trăm lần hơn trả lại cho đời.

Tôi là làng, là đất đen tốt tươi
Người với tôilà mưa, là tia nắng
Tôi chỉ là đất đen, là giấy trắng
Còn Người – Ông hoàng, Ông chủ của tôi!
1918

Я — страница твоему перу

Я — страница твоему перу.
Всё приму. Я белая страница.
Я — хранитель твоему добру:
Возращу и возвращу сторицей.

Я — деревня, чёрная земля.
Ты мне — луч и дождевая влага.
Ты — Господь и Господин, а я —
Чернозём — и белая бумага!
1918



24. KHỐN KHỔ CHO AI MẠNH MẼ GIÀU SANG

Khốn khổ cho ai mạnh mẽ, giàu sang
Đôi bờ vai sang giàu luôn trĩu nặng.
Còn tôi đây đứng trước người lính trận
Đôi con mắt tôi sáng chẳng hề buông.

Thành phố bạo hành và thổn thức lên
Vầng trăng nằm trong đám mây màu rượu
Còn tôi đây chẳng bị ai quấy nhiễu
Tôi vô cùng kiêu hãnh và đáng thương.

Плохо сильным и богатым

Плохо сильным и богатым,
Тяжко барскому плечу.
А вот я перед солдатом
Светлых глаз не опущу.

Город буйствует и стонет,
В винном облаке - луна.
А меня никто не тронет:
Я надменна и бедна.



25. MÈO

Khi mèo đến với ta, thì khi đó
Trong mắt ta còn chưa rõ niềm đau.
Nhưng nỗi đau không còn – mèo biến mau
Trái tim mèo không biết gì xấu hổ!

Thật buồn cười, phải vậy không, thi sĩ
Chúng được nuôi, dạy để thành mèo nhà
Nhưng bỏ chạy, phận tôi tớ không ưa
Trái tim mèo không biết làm nô lệ!

Dù ai mời gọi, dù ai dụ dỗ
Dù được nuôi trong ấm cúng, đủ đầy
Hở một giây là theo bản năng ngay
Trong tim mèo tình yêu không hề có!
1911

Кошки

Они приходят к нам, когда
У нас в глазах не видно боли.
Но боль пришла — их нету боле:
В кошачьем сердце нет стыда!

Смешно, не правда ли, поэт,
Их обучать домашней роли.
Они бегут от рабской доли:
В кошачьем сердце рабства нет!

Как ни мани, как ни зови,
Как ни балуй в уютной холе,
Единый миг — они на воле:
В кошачьем сердце нет любви!


 

26. NẾU NHƯ HẠNH PHÚC GÕ CỬA

Nếu như hạnh phúc  gõ cửa
Sau vài năm hoặc bây giờ
Thì lờihãy bước vào đi
Tôi sẽ không trả lời với nó!
Nếu hạnh phúc cần đến tôi
Thì cứ việc đóng băng bên cửa sổ
Cứ đ cho lỗi lầm của người nào đó
Sẽ xứng đáng với cuộc gặp gỡ này.

Nếu như giọng của hạnh phúc êm ái
Nếu như lời của nó giống như thơ
Với vẻ dịu dàng của giọt nước mưa
Đập vào trên mái
Tôi nghĩ: “Không hề mạnh mẽ
Những âm thanh này, đấy là mưa
Bay đến từ những khu rừng tăm tối”.
Tôi đây chẳng cần nghe!

Nếu giọng của hạnh phúc kiêu căng
Như một hợp âm khi vào trận
Nếu giọng này vững chắc và mạnh
Như địa ngục đầy quyền hành
Tôi sẽ nói: “Mi là con thú tìm nạn nhân
Đang lao vào cánh cửa!
Những điều khủng khiếp này, hãy nhớ
Ta đây sẽ không cần!”

(Chưa kết thúc).

Если счастье стукнет в дверь

Если счастье стукнет в дверь,
Через годы иль теперь,
Я «войди» ему, поверь,
Не отвечу!
Если счастью я нужна,
Пусть померзнет у окна,
Пусть заслужит (чья вина?)
Эту встречу.

Если счастья голос тих,
Если речь его, как стих
Лаской каплей дождевых
Бьется в крышу, —
Я подумаю: «Не мощь
В этих звуках; это дождь
Прилетел из темных рощ».
Не расслышу!

Если счастья голос горд,
Как воинственный аккорд,
Если мощен он и тверд
Властью ада, —
Я скажу ему: «Ты зверь,
Ты на жертву рвешься в дверь!
Этих ужасов, поверь,
Мне не надо!»

(Не окончено).



27. EM MUỐN ĐƯỢC SỐNG CÙNG ANH

Em muốn được sống cùng anh
một thành phố nhỏ
đó có hoàng hôn muôn thuở
Và muôn thuở tiếng chuông ngân.
Và trong phòng nghỉ ở nông thôn
Có tiếng ngân vang thanh nhẹ
Của chiếc đồng hổ cổ - như những giọt thời gian.
Và đôi khi trong những buổi chiều tàn
Từ gác xép nào đó vang lên tiếng sáo
Và người thổi sáo ngồi bên cửa sổ
Và những bông tuy líp thật to trên cửa nọ
Và có thể là, dù anh chẳng yêu em…

Một bếp lò to đặt chính giữa căn phòng
Trong mỗi ô của bếp lò có một bức tranh
Vẽ hoa hồng – trái tim – con tàu nhỏ
Còn bên ngoài khung cửa sổ
Tuyết và tuyết giăng màn.

Anh nằm đó – em yêu tư thế này của anh:
Lười nhác, vô tâm, hờ hững.
Có tiếng tí tách thi thoảng
Của những que diêm.

Điếu thuốc lá cháy lên rồi tàn
Và run rẩy thật lâu bên rìa mép
Mẩu tàn ngắn và có màu xám ngắt.
Anh lười nhác không muốn gạt tro tàn
Để cả điều thuốc bay vào trong bếp.
1916

Я бы хотела жить с Вами

…Я бы хотела жить с Вами
В маленьком городе,
Где вечные сумерки
И вечные колокола.
И в маленькой деревенской гостинице —
Тонкий звон
Старинных часов — как капельки времени.
И иногда, по вечерам, из какой-нибудь мансарды —
Флейта,
И сам флейтист в окне.
И большие тюльпаны на окнах.
И может быть, Вы бы даже меня любили…

Посреди комнаты — огромная изразцовая печка,
На каждом изразце — картинка:
Роза — сердце — корабль. —
А в единственном окне —
Снег, снег, снег.

Вы бы лежали — каким я Вас люблю: ленивый,
Равнодушный, беспечный.
Изредка резкий треск
Спички.

Папироса горит и гаснет,
И долго-долго дрожит на ее краю
Серым коротким столбиком — пепел.
Вам даже лень его стряхивать —
И вся папироса летит в огонь.



28. VÔ KHỐI NGƯỜI ĐẸP CÒN ANH MỘT MÌNH

Vô khối người đẹp, còn anh một mình
Trước một trăm ba mươi nàng Các-men
Và mỗi người giữ bông hoa trên miệng
Và mỗi người đòi hỏi vai của mình.

Những mắt lấp lánh và lời tỏ tình
Trên môi hồng, niềm đam mê như thế
Với lông thú, nước hoa, hồn nhiên tất cả
Tất cả đều là những kẻ tài năng.

Đèn sáng quanh những đôi mắt trẻ trung
Nhưng màn buông và vang lên tiếng sấm
Trong lụa thơm những dáng hình thanh mảnh
Và có người nào đó hôn tay anh.

Từ thiên tài, những gương mặt hóa trang
Vào quán rượu và say sưa nhìn ngắm!
Tiếng hò reo vào lúc ba giờ sáng
Trán đung đưa và nói: Hãy yêu em!

Как много красавиц, а ты – один

Как много красавиц, а ты - один,
Один - против ста тридцати Кармен,
И каждая держит цветок в зубах,
И каждая просит - роли.

У всех лихорадка в глазах и лесть
На красных губах, и такая страсть
К мехам и духам, и невинны все,
И все они - примадонны.

Вся каторга рампы - вокруг юных глаз.
Но занавес падает, гром гремит,
В надушенный шелк окунулся стан,
И кто-то целует руки.

От гения, грима, гримас, грошей -
В кабак, на расправу, на страстный смотр!
И возглас в четвертом часу утра,
С закинутым лбом: - Любите!



29.ANH ĐI VỀ NHỮNG XỨ SỞ XA XĂM

Anh đi về những xứ sở xa xăm
Con tim rồi giá băng. Đây không thế.
Người Ru-ma-ni, đường lầy, bình minh
Là bạn đồng hành của anh rất trẻ…

Có ai đã vứt hoa hồng trên tuyết?
Không, đấy chỉ là vỏ quýt thôi mà…
Anh bây giờ quay cuồng trong đầu óc:
Biển – cái chết – điệu nhảy – Marina…
1918

Уедешь в дальние края

Уедешь в дальние края,
Остынешь сердцем. - Не остыну.
Распутица - заря - румыны -
Младая спутница твоя...

Кто бросил розы на снегу?
Ах, это шкурка мандарина...
И крутятся в твоем мозгу:
Мазурка - море - смерть - Марина...



30. TÊN MARINA TRÊN DAO GĂM CỦA MÌNH

Tên Marina trên dao găm của mình –
Anh đã khắc, ra trận vì Tổ quốc.
Em là người đầu tiên và duy nhất
Trong cuộc đời tuyệt đẹp của anh.

Em nhớ đêm và gương mặt sáng trưng
Trong địa ngục của toa tàu chở lính.
Em để mái tóc bay trong gió thoảng
Giữ đôi cầu vai trong chiếc tráp con.
1918

На кортике своём: Марина

На кортике своём: Марина —
Ты начертал, встав за Отчизну.
Была я первой и единой
В твоей великолепной жизни.

Я помню ночь и лик пресветлый
В аду солдатского вагона.
Я волосы гоню по ветру,
Я в ларчике храню погоны.



31. KẾT QUẢ TRONG NGÀY

Trong buổi tối tôi mỏi mệt biết bao!
Không hài lòng với mình và tất cả!
Tôi đã cười trong những lần gặp gỡ
Cười quá nhiều mà không hiểu vì sao.

Có quá nhiều câu hỏi thiếu khát khao
Câu trả lời phải trả bằng dòng lệ.
Nói, đoán mò rồi ai ai cũng thế
Mang theo mình mà chẳng biết về đâu.

Có quá nhiều mắt nhìn khi cúi đầu
Chuyện tầm phào trong ngôi nhà tháp gỗ.
Thêu những hoa văn chẳng ai cần cả.
Đấy tràng hoa, thiên thần … Tại vì sao?

Chà, mệt mỏi! Những giấc mơ của ta
Rất yếu đuối! Dù dễ dàng thường lệ
Tôi đã có thể ra đi, ẩn mình có thể…
Suốt ngày tôi phản bội Chúa Kitô!
1906 – 1912

Итог дня

Ах, какая усталость под вечер!
Недовольство собою и миром и всем!
Слишком много я им улыбалась при встрече,
Улыбалась, не зная зачем.

Слишком много вопросов без жажды
За ответ заплатить возлиянием слёз.
Говорили, гадали, и каждый
Неизвестность с собою унёс.

Слишком много потупленных взоров,
Слишком много ненужных бесед в терему,
Вышивания бисером слишком ненужных узоров.
Вот гирлянда, вот ангел… К чему?

Ах, какая усталость! Как слабы
Наши лучшие сны! Как легка в обыденность ступень!
Я могла бы уйти, я замкнуться могла бы…
Я Христа предавала весь день!



32. THIÊN ĐƯỜNG

Hoài niệm đang đè quá nặng trên vai
Tôi sẽ khóc về thiên đường mặt đất
Những lời cũ rồi trong ngày gặp mặt
Tôi sẽ chẳng giấu đi.

Nơi có thiên thần bay lượn thẳng hàng
Có dàn đồng ca, thụ cầm và hoa huệ
Nơi tất cả lặng yên, tôi sẽ không ngừng nghỉ
Tìm bắt ánh mắt anh.

Sẽ hộ tống cho tôitầm nhìn của thiên đường
Tôi một mình giữa những nàng tiên trinh nữ
Tôi sẽ hát lên, trần tục và xa lạ
Giai điệu của trần gian!

Hoài niệm đang đè nặng trên vai mình
Sẽ đến phút giây – tôi chẳng che dòng lệ…
Chẳng đó, chẳng đây – không cần gặp gỡ
Gặp gỡ đâu chỉ có chốn thiên đường!
1906 – 1912

В раю

Воспоминанье слишком давит плечи,
Я о земном заплачу и в раю,
Я старых слов при нашей новой встрече
Не утаю.

Где сонмы ангелов летают стройно,
Где арфы, лилии и детский хор,
Где всё покой, я буду беспокойно
Ловить твой взор.

Виденья райские с усмешкой провожая,
Одна в кругу невинно-строгих дев,
Я буду петь, земная и чужая,
Земной напев!

Воспоминанье слишком давит плечи,
Настанет миг, — я слёз не утаю…
Ни здесь, ни там, — нигде не надо встречи,
И не для встреч проснёмся мы в раю!





33. CHIẾN THẮNG

Nhưng mà ta đang có chiếc chén thần
(Ngày buồn ngủ anh hãy dùng đến nó!)
Nhưng mà ta có nụ cười, và nữa
Có một điều bí mật tối tăm hơn.

Bóng Eurydice, đuốc Hecate đi cùng
Tất cả thoáng qua rồi biến vào trong một.
Chiến thắng của ta là muôn đời muôn kiếp
Ta giàu có bằng một thứ rượu vang!
1906 – 1912
___________
* Eurydicenữ thần trong thần thoại Hy Lạp, vợ của Orpheus; Hecatecũng là một nữ thần trong thần thoại Hy Lạp.

Победа

Но и у нас есть волшебная чаша,
(В сонные дни вы потянетесь к ней!)
Но и у нас есть улыбка, и наша
Тайна темней.

Тень Эвридики и факел Гекаты, —
Всё промелькнёт, исчезая в одном.
Наша победа: мы вечно богаты
Новым вином!


34. CHẲNG NƠI NỌ, NƠI NÀY

Với thập ác sáng ngời
Chuông hát lời khen ngợi.
Tôi rùng mình và hiểu
Cả nơi nọ, nơi này”.

Nụ cười đòi bờ môi
Còn hơn lời khen ngợi
Tôi sai lầm có thể?
Nơi nọ, không nơi này”.

Mặc thập ác sáng ngời
Chuông hát lời khen ngợi
Tôi hiểu ra rất rõ:
Chẳng nơi nọ, nơi này… “
1906 – 1912

Ни здесь, ни там

Опять сияющим крестам
Поют хвалу колокола.
Я вся дрожу, я поняла,
Они поют: «и здесь и там».

Улыбка просится к устам,
Ещё стремительней хвала…
Как ошибиться я могла?
Они поют: «не здесь, а там».

О, пусть сияющим крестам
Поют хвалу колокола…
Я слишком ясно поняла:
«Ни здесь, ни там… Ни здесь, ни там»…


35. CỎ MỘC TÊ VÀ HOA HỒNG

Hoa này đón chào, còn hoa kia có phần dọa dẫm
Những bông hoa đi thành hàng thành dãy sáng lên.
Buổi bình minh ta thề thốt chỉ bằng hoa hồng
Nhưng ta thở bằng cỏ mộc tê trong giờ chiều muộn.

Một người này trên đường bị hoa mimosa quyến rũ
Kẻ khác thì yêu hoa linh lan lấp lánh trong sương. –
Nhưng ta chỉ thở bằng hoa hồng trong buổi bình mình
Nhưng rồi bằng cỏ mộc tê ta kết thúc tất cả!
1906 – 1912
_____________
*Thời La Mã cổ đại hoa hồng tượng trưng cho điều bí mật. Trong thơ ca, hoa hồng là màu sắc, hình dáng và hương thơm còn cỏ mộc tê thì chỉ có mùi hương. Hoa mimosa tượng trưng cho sự rụt rè, nhút nhát; hoa linh lan luôn gắn liền với sự tinh khiết, sự dịu dàng và lòng chung thủy.

Резеда и роза

Один маня, другой с полуугрозой,
Идут цветы блестящей чередой.
Мы на заре клянёмся только розой,
Но в поздний час мы дышим резедой.

Один в пути пленяется мимозой,
Другому ландыш мил, блестя в росе. —
Но на заре мы дышим только розой,
Но резедою мы кончаем все!



36. MỘT BỨC THƯ TRÊN TRANG GIẤY MÀU HỒNG

Trong một câu chuyện cổ vùng sông Ranh
Nơi có nhân vật là chàng trai buồn
Trong buổi tối muộn màng chàng đem đốt
Một bức thư trên trang giấy màu hồng.

Tôi như chàng hiệp sĩ (nhưng mà không
Có cây bút, mũ sắt hay thanh kiếm!)
Một bức thư trên trang giấy màu hồng
Ngày hôm qua đem đốt bằng ngọn nến.

Cùng với cờ chàng đi vào trận chiến
Với tiếng cười và nhiệt huyết trào dâng
Và chàng hạnh phúc và chàng quên bẵng
Một bức thư trên trang giấy màu hồng.

Bức thư nọ đã chết trên ngọn lửa
Nhưng vẫn rì rào theo mỗi bước chân
Một bức thư trên trang giấy màu hồng
Mà giờ ở trong lòng tôi vẫn giữ!

Dù chàng hiệp sĩ trong câu chuyện cổ
Nỗi buồn của mình rồi sẽ quên nhanh –
Còn tôi trong lòng giờ đây vẫn giữ
Một bức thư trên trang giấy màu hồng!
1906 – 1912

Письмо на розовой бумаге

В какой-то дальней рейнской саге
Печальный юноша-герой
Сжигает позднею порой
Письмо на розовой бумаге.

И я, как рыцарь (без пера,
Увы, без шлема и без шпаги!),
Письмо на розовой бумаге
На канделябре сжёг вчера.

Его в поход умчали флаги,
Фанфары смех и боя пыл,
И он, счастливый, позабыл
Письмо на розовой бумаге.

Оно погибло на огне,
Но шелестит при каждом шаге,
Письмо на розовой бумаге
Уж не на мне оно, — во мне!

Пусть забывает в дальней саге
Печальный рыцарь грусть свою, —
Ах, я в груди его таю,
Письмо на розовой бумаге!



37. ĐÊM CUỐI NĂM

Sẽ gặp người lạ dưới ánh sáng đèn
Ánh sáng đèn thủy chung và tĩnh lặng
Chỉ không cần cái thở dài thầm kín
Không thở dài về anh!

Ánh sáng đèn mạnh mẽ cũng không cần
Mà sẽ vặn cho ngọn đèn nhỏ xuống.
Chỉ một điều ánh mắt nhìn không ném
Không ánh mắt về anh!

Cứ việc để cho xao xuyến bâng khuâng
Ngỡ một năm như một ngày ngắn ngủi!
Chỉ ý nghĩ về những gì muôn thuở
Không ý nghĩ về anh!

Một lần nữa lại trở thành “chị em”
Để vui mừng ôm lấy nhau, hớn hở
Chỉ không cần một lời về quá khứ
Không một lời về anh!
1906 – 1920

Под Новый год

Встретим пришельца лампадкой,
Тихим и верным огнем.
Только ни вздоха украдкой,
Ни вздоха о нем!

Яркого света не надо,
Лампу совсем привернем.
Только о лучшем ни взгляда,
Ни взгляда о нем!

Пусть в треволненье беспечном
Год нам покажется днем!
Только ни мысли о вечном,
Ни мысли о нем!

Станем «сестричками» снова,
Крепче друг к другу прильнем.
Только о прошлом ни слова,
Ни слова о нем!



38. MỘT NỬA Ô CỬA SỔ ĐÃ MỞ RA

Một nửa ô cửa sổ đã mở ra
Một nửa của tâm hồn đã mở.
Nào ta hãy mở luôn nửa kia
Và nửa kia cửa sổ!
1920

Одна половинка окна растворилась

Одна половинка окна растворилась.
Одна половинка души показалась.
Давай-ка откроем — и ту половинку,
И ту половинку окна!



39. THẬT NGỌT NGÀOHAI NGƯỜI CHUNG MỘT NGỰA

Thật ngọt ngàohai người chung một ngựa
Trên một thuyềnmột con sóng trào dâng
Thật ngọt ngàochung mẩu bánh cùng ăn
Ngọt ngào nhấtlà nằm chung một gối.

Сладко вдвоём — на одном коне

Сладко вдвоём — на одном коне,
В том же челне — на одной волне,
Сладко вдвоём — от одной краюшки —
Слаще всего — на одной подушке.




Thơ về Pyotr Efron

40. TÔI KHÔNG NGHĨ SUY

Tôi không nghĩ suy, không tranh luận, chẳng thở than
Không ngủ.
Tôi cũng chẳng ước mong
đến mặt trời, mặt trăng
đến tàu hay biển cả.

Tôi không cảm thấy như trong những bức tường nóng hổi
Hay như xanh mướt ở trong vườn.
Từ lâu món quà trông đợi, ước mong
Tôi không còn chờ đợi.

Tôi không vui vì buổi sáng hay tiếng kêu ầm ĩ
Của tàu điện chạy vang lên
Tôi sống, không thấy ngày, tôi lãng quên
Con số và thế kỷ.

Cứ ngỡ như trên dây thừng chắp nối
Tôi là người nhảy múa tí hon
Tôi là bóng của ai đấy. Tôi là người miên hành
Của hai vầng trăng tối.
1914

Не думаю, не жалуюсь, не спорю

Не думаю, не жалуюсь, не спорю.
Не сплю.
Не рвусь
ни к солнцу, ни к луне, ни к морю,
Ни к кораблю.

Не чувствую, как в этих стенах жарко,
Как зелено в саду.
Давно желанного и жданного подарка
Не жду.

Не радует ни утро, ни трамвая
Звенящий бег.
Живу, не видя дня, позабывая
Число и век.

На, кажется, надрезанном канате
Я - маленький плясун.
Я - тень от чьей-то тени. Я - лунатик
Двух темных лун.
1914


41. CHIẾN TRANH, CHIẾN TRANH

Chiến tranh, chiến tranh! – Tiếng lắc của bình hương
Tiếng giày đinh thúc ngựa
Nhưng tôi chẳng quan tâm những tính toán của Sa-hoàng
Hay chuyện người ta cãi cọ.

Cứ ngỡ như trên dây thừng chắp nối
Tôi là người nhảy múa tí hon
Tôi là bóng của ai đấy. Tôi – người miên hành
Của hai vầng trăng tối.
1914

Война, война!- Кажденья у киотов

Война, война!- Кажденья у киотов
И стрёкот шпор.
Но нету дела мне до царских счетов,
Народных ссор.

На кажется-надтреснутом канате
Я - маленький плясун.
Я - тень от чьей-то тени. Я - лунатик
Двух тёмных лун.
1914



42. BẠN THÂN YÊU VỀ BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG

Bạn thân yêu về bên kia đại dương!
Hoa hồng cho anh – hãy chìa tay nhận nó.
Bạn thân yêu, anh mang theo một thứ
Quí nhất từ những kho báu trần gian.

Tôi bị lừa, tôi bị cướp sạch trơn
Trong ký ức chẳng còn thư hay nhẫn!
Và tôi nhớ đôi con mắt sâu hoắm
Đến muôn đời – trên gương mặt ngạc nhiên.

Và tôi rất nhớ cái vẻ cầu xin
Của ánh mắt van nài – ngồi gần lại
Và nụ cười từ nơi rất xa ngái
Vẻ tâng bốc của kẻ đang chết dần…

Bạn thân yêu đi về chốn vĩnh hằng
– Gò đất con giữa bao nhiêu gò đất! –
Hãy cầu nguyện cho tôi nơi cực lạc
Để sao cho thủy thủ khác không còn.
1915
______________
*Loạt bài thơ Tôi không nghĩ suy; Chiến tranh, chiến tranh; Bạn thân yêu về bên kia đại dương; Từng con sóng cuộn tròn bên tảng đá; Lá vàng rơi lả tả; Tôi đã từng gặp anh những ba lần viết về Pyotr Efron (1884 – 1914), – người tình, anh trai của Sergei Efron, chồng của nữ thi sĩ.

Милый друг, ушедший дальше, чем за море

Милый друг, ушедший дальше, чем за море!
Вот Вам розы — протянитесь на них.
Милый друг, унесший самое, самое
Дорогое из сокровищ земных.

Я обманута и я обокрадена, —
Нет на память ни письма, ни кольца!
Как мне памятна малейшая впадина
Удивленного — навеки — лица.

Как мне памятен просящий и пристальный
Взгляд — поближе приглашающий сесть,
И улыбка из великого Издали, —
Умирающего светская лесть…

Милый друг, ушедший в вечное плаванье,
— Свежий холмик меж других бугорков! —
Помолитесь обо мне в райской гавани,
Чтобы не было других моряков.



43. TỪNG CON SÓNG CUỘN TRÒN BÊN TẢNG ĐÁ

Từng con sóng cuộn tròn bên tảng đá
Rồi tung ra và sủi bọt, ngân vang
Một đứa bé –
Chỉ cho em ngôi biệt thự của anh.

Rất vô tình, chầm chậm những bước chân
– Bước bạo dạn xem chừng không phải nhẽ -
Em bước chân đi và em để ý
Nghe tiếng xạc xào sỏi dưới bàn chân.

Tiếng cót két của xe ngựa đi ngang
Một cánh buồm qua màu xanh của lá
Đã lấp lánh hàng cột màu trắng xóa
Của ban công.

Một vẻ tĩnh lặng như thế đã từng
Như chỉ trong buổi trưa tháng bảy
Em nhớ: hôm đó anh nằm nghỉ
Trên chiếc ghế bện dây thừng.

Ái chà – thế giới này thô lỗ quá chừng!
Không đánh giá cao tư thế đầy quyến rũ
Trên bờ môi của anh – em nhớ
Có một bông hồng.

Và anh đã không ngẩng đầu lên
Ra vẻ như đã từng chán ngấy
Bằng cử chỉ này anh cho thấy
Anh đã chìa bàn tay cho em.

Chao ôi, đôi mắt đẹp quá chừng
Ai nói rằng – tại vì sao – nheo mắt
Ai bây giờ đang là bão giông – anh đã biết –
Trong bầu trời xanh như ngọc của em.

Tại vì mặt trời hoặc vì cái nóng
Em ngỡ như màu hổ phách cả khu vườn
Một người Tác-ta đã bán áo choàng
Rồi sau đi khỏi hẳn…

Miệng của anh kiêu căng và hấp dẫn
Và mím chặt – mọi thứ đã rõ rành
Và mặt trời xuyên qua bụi thường xuân
Ném ra từng chiếc bóng.

Em nhớ lại: bên mép rìa của ghế
Có chiếc mũ bện bằng rơm của anh
Có tiếng ngân vang của cồng chiêng
Và mùi nặng

Của những bông hoa hồng đã chín
Và những nếp gấp của vải rèm
Và câu chuyện của chúng mình
Và tiếng kêu lẻng xẻng

Với những thứ mà anh người sai khiến
Giũ tàn thuốc khỏi hoa hồng
Và bộ đồ rất đẹp của anh
Có màu rất sáng.
1914

Прибой курчавился у скал

Прибой курчавился у скал —
Протяжен, пенен, пышен, звонок...
Мне Вашу дачу указал —
Ребенок.

Невольно замедляя шаг
— Идти смелей как бы не вправе, —
Я шла, прислушиваясь, как
Скрежещет гравий.

Скрип проезжающей арбы,
Бег паруса. — Сквозь плющ зеленый
Блеснули белые столбы
Балкона.

Была такая тишина,
Как только в полдень и в июле.
Я помню: Вы лежали на
Плетёном стуле.

Ах, не оценят — мир так груб! —
Пленительную Вашу позу.
Я помню: Вы у самых губ
Держали розу.

Не подымая головы,
И тем подчёркивая скуку —
О, этот жест, которым Вы
Мне дали руку.

Великолепные глаза
Кто скажет — отчего — прищуря,
Вы знали — кто сейчас гроза
В моей лазури.

От солнца или от жары —
Весь сад казался мне янтарен;
Татарин продавал чадры,
Ушел татарин...

Ваш рот, надменен и влекущ,
Был сжат — и было все понятно,
И солнце сквозь тяжелый плющ
Бросало пятна.

Все помню: на краю шэз-лонг
Соломенную Вашу шляпу,
Пронзительно звенящий гонг,
И запах

Тяжелых, переспелых роз
И складки в парусинных шторах,
Беседу наших папирос,
И шорох,

С которым Вы, властитель дум,
На розу стряхивали пепел.
Безукоризненный костюм
Был светел.
1914






44. LÁ VÀNG RƠI LẢ TẢ

Lá vàng rơi lả tả
Trên mồ anh giữa gió lạnh mùa đông
Hãy lắng nghe này người yêu đà yên nghỉ
Anh, dù sao cũng vẫn là của em.

Anh hãy cười lên! – Trong hồng phúc lên đường!
Mặt trăng lơ lửng trên cao ấy.
Anh là của emkhông ngờ vực, hiển nhiên
Như cánh tay này vậy.

Từ sáng sớm em cất bước lên đường
Hướng về những cánh cửa nơi bệnh viện
Anh chỉ đơn giản là đi về xứ nóng
Hướng về những đại dương.

Em đã hôn anh! Em đã bỏ bùa anh!
Em đang cười bóng tối trên mộ chí!
Em không tin tử thần! Em vẫn đợi
Vẫn chờ anh từ ga xe lửa về nhà mình.

Cứ để mặc lá rơi và sẽ xóa sạch trơn
Những lời ghi trên băng tang mộ chí
Và nếu như với cuộc đời anh không còn nữa
Thì em cũng không còn.

Em nhìn thấy, cảm nhận anh ở xung quanh!
–Thì những dải băng tang có nghĩa gì cơ chứ! –
Em đã không quên và sẽ không quên
Không quên anh suốt năm dài thế kỷ!

Em biết lời hứa như vầy chỉ là vô giá trị
Em hiểu sự hoài công.
– Bức thư gửi vào vô cùng
– Bức thư gửi vào vô tận
Bức thư gửi vào trống không.

Осыпались листья над Вашей могилой

Осыпались листья над Вашей могилой,
И пахнет зимой.
Послушайте, мёртвый, послушайте, милый:
Вы всё-таки мой.

Смеётесь! — В блаженной крылатке дорожной!
Луна высока.
Мой — так несомненно и так непреложно,
Как эта рука.

Опять с узелком подойду утром рано
К больничным дверям.
Вы просто уехали в жаркие страны,
К великим морям.

Я Вас целовала! Я Вам колдовала!
Смеюсь над загробною тьмой!
Я смерти не верю! Я жду Вас с вокзала —
Домой.

Пусть листья осыпались, смыты и стёрты
На траурных лентах слова.
И, если для целого мира Вы мёртвый,
Я тоже мертва.

Я вижу, я чувствую, — чую Вас всюду!
— Что́ ленты от Ваших венков! —
Я Вас не забыла и Вас не забуду
Во веки веков!

Таких обещаний я знаю бесцельность,
Я знаю тщету.
— Письмо в бесконечность.
— Письмо в беспредельность —
Письмо в пустоту.



45. TÔI ĐÃ TỪNG GẶP ANH NHỮNG BA LẦN

Tôi đã từng gặp anh những ba lần
Nhưng mà hai ta không hề riêng lẻ
Bởi vì qua lời đầu tiên của anh
Con tim của tôi đã cháy!

Ý nghĩa của những lời rất tăm tối
Như tiếng rì rào của chiếc lá non.
Anh giống hệt chân dung trong albom –
Anh là ai thì tôi không biết nổi.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tất cả vô tình – như người đời nói
Có thể đem gấp lại cuốn albom…
Ôi, vầng trán cẩm thạch! Điều bí mật nằm
Ở đằng sau vầng trán to lớn ấy!

Hãy lắng nghe đây này, tôi trung thực
Trước sự thách thức, trước nỗi buồn:
Và bờm tóc của tôi màu vàng
Chưa từng biết đến bàn tay ai khác.

Linh hồn của tôi không hề khuất phục
Ta là những linh hồn đẳng cấp khác nhau
Và con quỉ không thể nào mua chuộc của tôi
Yêu anh – không hề cho phép.

– Thế thì đã có điều gì ở đây?
Sự phán xét của một quan tòa khác.
Có nhiều thứ không có câu trả lời
Tôi là ai – anh không hề biết được.
1914

Я видела Вас три раза

Я видела Вас три раза,
Но нам не остаться врозь.
— Ведь первая Ваша фраза
Мне сердце прожгла насквозь!

Мне смысл её так же тёмен,
Как шум молодой листвы.
Вы — точно портрет в альбоме, —
И мне не узнать, кто Вы.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Здесь всё — говорят — случайно,
И можно закрыть альбом…
О, мраморный лоб! О, тайна
За этим огромным лбом!

Послушайте, я правдива
До вызова, до тоски:
Моя золотая грива
Не знает ничьей руки.

Мой дух — не смирён никем он.
Мы — души различных каст.
И мой неподкупный демон
Мне Вас полюбить не даст.

— «Так что ж это было?» — Это
Рассудит иной Судья.
Здесь многому нет ответа,
И Вам не узнать — кто я.
1914